Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh lớp 3

Sáng kiến kinh nghiệm về rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh lớp 3 của giáo viên: Đỗ Thị Viền, Hệ đào tạo: Đại học, Nhiệm vụ được giao: GVCN lớp 3A, Đơn vị: Trường Mạc Thị Bưởi – Eakar – Đăk Lăk

I/ Nhận thức vấn đề:

Để chuẩn bị hoá ngôn ngữ một dân tôc cần phải chuẩn hoá hai mặt: Chính âm và chính tả. Chính âm giúp cho việc thống nhất cách đọc, chính tả giúp cho việc thống nhất cách viết. Chính tả có tính chất xã hội, nó là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ khi dùng mã chữ viết làm phương tiện giao tiếp. Vì vậy để đảm bảo cho người phát và người nhận đều hiểu nội dung của văn bản một cách thống nhất, ta phải đưa ra hệ thống quy tắc về cách viết cho các từ của một ngôn ngữ.

Trong trường tiểu học, chính tả được dạy với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt. Như vậy, chính tả có một vị trí quan trọng là hình thành năng lực thói quen viết đúng chính tả, tức là hình thành một trong những năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh. Chỉ có trong nhà trường tiểu học chính tả mới được dạy và học với tư cách là một môn học. Vì vậy, nó có một vị trí đặc biệt. Nếu ở tiểu học, học sinh đã mắc phải những lỗi chính tả thì sau này rất khó sửa.

Như vậy phân môn chính tả có nhiệm vụ là cung cấp cho học sinh các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng viết chính tả. Ngoài ra chính tả còn rèn luyện cho học sinh các phẩm chất như: cẩn thận, tính thẩm mĩ, tình yêu đối với Tiếng Việt, ý thức giữ gìn phát triển sự trong sáng, giàu đẹp tiếng mẹ đẻ.

Đặc biệt với thực tế hiện nay, học sinh trong một lớp tương đối đông nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn, rèn viết đúng chính tả. Nhiều em viết quá cẩu thả, quen tay viết không đúng mẫu, chữ viết quá to, quá nhỏ không đúng kích cỡ. Các em hay mắc lỗi về phụ âm đầu (khi cùng một âm nhưng có nhiều cách viết).

Ví dụ: gồ ghề – ghồ gề hoặc cạn kiệt – kạn kiệt.
Cũng có em mắc lỗi về phần vần:
Ví dụ: khuếch trương – khuyếch trương
Ngoằn ngòeo – nguằn ngòeo
Hoặc các em lại không nắm được quy tắc viết hoa:
Ví dụ: Nguyễn Thị Minh Khai – Nguyễn thị Minh Khai
Hoặc tên nước ngoài chỉ viết hoa chữ cái đầu:
I-ta-li-a – I-Ta-Li-A
Hoặc phát âm sai phụ âm đầu nên viết sai: l/n, r/d
Ví dụ: lo lắng – no nắn
Thể dục – thẻ rục
Rách nát – dách nát
Phát âm sai âm điệu nên cũng viết sai: hỏi/ ngã
Ví dụ: mĩ mãn – mỉ mản vui vẻ – vui vẽ
Phát âm sai các chữ cái của phụ âm cuối hoặc lẫn lộn giữa các chữ cái của nguyên âm mà viết sai:
Vĩ dụ: phốp pháp – phốp phát
Tan tác – tang tác
Cái đuôi – cái đui
Trước thực trạng trên tôi đã nghiên cứu đưa ra phương châm: phải năng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng viết chính tả, rèn kĩ năng viết đúng mẫu chữ mới theo chương trình thay sách lớp 1,2,3,4,5 ở bậc tiểu học.

II/ Quá trình triển khai và thực hiện

Muốn hướng dẫn các em có khả năng viết chính tả trước hết giáo viên phải tự mình nẵm vững nội dung yêu cầu của những khối lớp, cần tuân thủ các nguyên tắc như: dạy học chính tả theo khu vực, nguyên tắc kết hợp chính tả ở ý thức và chính tả không có ý thức, nguyên tắc xây dựng cái đúng và loại bỏ cái sai.

Nguyên tắc dạy học theo khu vực là quá trình dạy học chính tả giáo viên cần linh hoạt, cần soạn thảo những bài tập dạy học chính tả cho phù hợp với tình hình địa phương, phù hợp với học sinh lớp mình dạy. Những em hay bị sai khi phát âm phụ âm đầu, hoặc vần hoặc dấu thanh giáo viên cần có biện pháp với từng em. Giáo viên có thể trò chuyện để sửa lỗi khi nói, cần cho các em viết bản nhiều lần những từ hay sai. Cần nắm được đố tượng cụ thể hay sai để kịp thời uốn nắn, sửa sai ngay. Đặc biệt giáo viên phải là người mẫu mực trong cách nói và viết. Nghĩa là giáo viên nói chuẩn, chữ viết đúng mẫu, đẹp. Và phải rèn chữ viết cho các em ở tất cả các môn học. Có như vậy các em mới quen tay và nhớ được mẫu chữ, hiểu được tầm quan trong của việc rèn chữ. Cần chú ý đến nội dung để lại phân môn chính tả: chính tả nghe đọc, chính tả so sánh, chính tả trí nhớ, tập chép. Đối với chính tả nghe đọc thì giọng đọc của giáo viên là quan trọng: giáo viên phải đọc đúng, hay, chính xác. Đối với chính tả so sánh, giáo viên phải giúp các em so sánh, phân biệt các âm (r/d/g;s/x;l/n…) các vần (iêu/ êu/ yêu; an/ ang…) còn đói với tập chép thì chữ mẫu là cần thiết nên chữ của giáo viên phải đẹp, đúng mẫu.

Phải dựa vào nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và không có ý thức có cơ sở và đặc điểm tâm lý học sinh. Việc vận dụng nguyên tắc này trong quá trình dạy học chính tả cúng phải phù hợp với nội dung bài học và lứa tuổi học sinh.

Nguyên tắc xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai xuất phát từ mỗi quan hệ tư duy. Nguyên tắc này yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả biết loaị bỏ cái sai, biết nguyên nhân của việc mắc lỗi. Có hai loại lỗi chủ yếu học sinh hay mắc phải là lỗi do không nắm vững quy tắc chính tả hiện hành và lỗi do phát âm sai và viết sai.

Vì vậy để viết đúng chính tả cần học thuộc 1 số quy tắc

– viết ngh và ng :
+ viết ngh khi đứng trước các nguyên âm: i, e, ê(nghỉ, nghề…)
+ viết ng khi đứng trước các nguyên âm khác: ngô, ngơ ngác…
– viết c, k, q :
+ viết c khi đứng trước các nguyên âm khác: co, cô, cờ…
+ viết q khi đứng trước âm đệm: VD: quân đội, quản ca…
Hoặc dựa vào 1 số mẹo chính tả:
* Mẹo viết phụ âm với d/gi:
Sẽ viết d khi đứng trước các vần: oa, oa, uâ, oe, uê, uy…
Nếu từ hán việt mang dấu hỏi và sắc thì viết gi:giảng văn, học giả, giá cả…
*Mẹo viết phụ âm đầu tr và ch:
Viết ch trong trường hợp quan hệ gia đình: cha, chú , chị…hoặc chỉ đồ dùng gia đình: chai, chảo, chén, chõng…
Từ chỉ ý phủ định: chố, chẳng , chưa…
Viết tr trong trường hợp chỉ ý không có sự che đậy: trần trụi, trơ trọi, trống traỉ…
Chỉ tính chất xấu: trâng tráo, trơ trơ, trơ trẽn…
Còn đôi với chữ viết hoa học sinh phải nắm được các trường hợp cần viết hoa.
Đó là: viết hoa tên riêng của người, địa danh, các cơ quan đoàn thể, viết hoa chữ cái đầu câu, viết hoa chữ cái đứng đầu một câu thơ và với dụng ý tu từ:
“Bàn tay con nắm tay Cha
Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng.”
Các em cần nắm được cách viết hoa. Đối với tên riêng Việt Nam và tên riêng nước ngoài phiên âm Hán Việt thì viết hoa chữ cái đầu tiên của tất cả các tiếng đầu thành tên người và giữa các tiếng không có dấu ngang nối.
VD : Trần Hưng Đạo, Đặng Tiểu Bình, Bắc Kinh…
Đối với tên riêng nước ngoài (có cách nối) hoặc tên dân tộc(Ê-đê) chỉ viết hoa chữ cái đầu câu:
VD: Mát – xcơ – va, In – đô – nê – xi – a…
Và phải thông báo mẫu chữ mới của chương trình thay sách của bậctiểu học cho các bậc phụ huynh để họ nắm bắt được và rèn luyện thêm cho các em. Đặc biệt đối với những em chữ chưa đẹp còn hay viết sai cần phải thông báo cho các phụ huynh rèn luyệm thêm ở nhà bằng cách mỗi ngày viết mot bài thơ ( 4 câu) nhưng viết phải đúng mẫu.
Mỗi em tự ghi nhớ trong đầu : “ chữ viết nết người” – “rèn chữ đẹp, giữ vở sạch.”
Và mỗi tháng tôi đều tổ chức thi “chữ viết đẹp” cho các em. Qua đó tuyên dương, khen thưởng những em viết chữ đẹp, động viên các em có tiến bộ.

III/ Kết quả đạt được:

Sau thời gian áp dụng phương pháp trên tôi thấy đẫ có kết quả.

Đa số các em học sinh tôi dạy đã viết đúng chính tả, chữ viết đã đúng mẫu và đẹp hơn, nhanh hơn, biết giữ gìn vở sạch chữ đẹp.

Trong các đợt thi “vở sạch chữ đẹp” của trường, huyện lớp tôi đều đạt “vở sạch chứ đẹp”.

IV/ Kết luận chung

Như vậy, chính tả hiểu theo nghía thông thường là “phép viết đúng”. Muốn viết đúng cần phải xác định cách viết đúng cho các từ ngữ theo quy tắc của hệ thống cbhữ viết Tiếng Việt, đặc biệt là việc xác định cách viết thống nhất cho các từ có những cách phát âm giống nhau nhưng lại viết khác nhau.

Phải thực hiện các nguyên tắc viết hoa, viết tắt. Phải biết cách phiên chuyển tên riêng nước ngoài, tên riêng các dân tộc thiểu số, tên nước Việt Nam sang tiếng việt và phải biết cách sử dụng dấu câu.

Trên đây là kinh nghiệm của tôi về việc rèn kĩ năng viết chính tả. Trong việc nghien cứa chắc còn nhiều thiếu sót, rất mong sự giúp đỡ, đống góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp.